TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỤI – BẢN ÁN THỰC TẾ

HUI 1 - TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỤI – BẢN ÁN THỰC TẾ

Công ty Luật Cộng Đồng Vạn Tín xin trân trọng giới thiệu đến Quý khách hàng bài viết TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỤI – BẢN ÁN THỰC TẾ. Bản án 32/2021/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng về “Tranh chấp hợp đồng hụi”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 32/2021/DS-ST

Ngày 27-5-2021

V/v tranh chấp hợp đồng hụi và vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

 

 

NHÂN DANH 

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH SÓC TRĂNG 

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn 

Các Hội thẩm nhân dân: 

Ông Nguyễn Thành Đông 

Ông Võ Tấn Nga 

– Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T,  tỉnh Sóc Trăng. 

– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên  tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân – Kiểm sát viên. 

Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc  Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2020/TLST-DS ngày 11 tháng  12 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2021/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự: 

– Nguyên đơn: Bà Phan Thị Út L; địa chỉ nơi cư trú: Ấp M, xã Q, thị xã N,  tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt) 

– Bị đơn: Bà Lê Kim T; địa chỉ nơi cư trú: Ấp M, xã V, huyện T, tỉnh Sóc  Trăng. (Vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN: 

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30-11-2020, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 31- 12-2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Út L trình  bày vào năm 2019, bà làm chủ hụi có đứng ra kêu hụi thì có nhiều người tham  gia, trong đó bà Lê Kim T có tham gia. Cụ thể, dây hụi tháng 5.000.000 đồng mở ngày 16-6-2019 âm lịch có 22 chân, gom tiền vào ngày 22 hàng tháng, bà T tham  gia 01 chân và đóng hụi sống đến lần khui thứ 6, lần khui thứ 7 bà T hốt số tiền  80.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi xong bà T đóng hụi chết đến lần thứ 16 thì  không đóng hụi chết nữa. Khi bà nộp đơn khởi kiện thì bà T nợ 01 lần hụi chết số tiền 5.000.000 đồng, khi bà nộp đơn khởi kiện bổ sung thì bà T nợ 02 lần hụi chết  số tiền 10.000.000 đồng, tính đến nay dây hụi này đã mãn nhưng bà T vẫn không  đóng hụi chết cho bà, nên bà T nợ bà 06 lần hụi chết số tiền 30.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải trả cho bà 30.000.000 đồng nợ hụi  chết trên. 

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11-01-2021, bị đơn bà Lê Kim T trình bày bà có tham gia tổng cộng 03 dây hụi do bà L làm chủ hụi, cụ thể: dây hụi thứ nhất là  dây 3.000.000 đồng, mở ngày 12-3-2019 âm lịch, có 24 chân, bà tham gia 02 chân  đóng được 20 lần, còn nợ bà L 04 lần x 6.000.000 đồng với số tiền 24.000.000  đồng; dây hụi thứ hai là dây 5.000.000 đồng, mở ngày 16-6-2019 âm lịch, có 22  chân, bà tham gia 01 chân đóng được 16 lần, hiện còn nợ bà L 06 lần x 5.000.000  đồng với số tiền 30.000.000 đồng; dây hụi thứ ba là dây 3.000.000 đồng, mở ngày  20-6-2019 âm lịch, có 24 chân, bà tham gia 01 chân đóng được 16 lần hụi sống, chưa hốt hụi, tính ra dây hụi này thì bà L nợ bà số tiền 48.000.000 đồng, do bà L không cho bà hốt dây hụi này nên bà mới ngưng đóng dây 5.000.000 đồng, nếu  bà L cho bà hốt dây hụi này thì bà sẽ tiếp tục đóng dây 5.000.000 đồng trên đầy  đủ đúng ngày tháng cho bà L; với 03 dây hụi bà tham gia của bà L như trên, bà  tính tiền hụi chết bà còn nợ của bà L là 24.000.000 đồng (dây hụi thứ nhất) +  30.000.000 đồng (dây hụi thứ hai) – 48.000.000 đồng (dây hụi thứ ba) – 1.500.000  đồng (hoa hồng dây hụi thứ hai cho bà L) = 7.500.000 đồng, nên bà chỉ đồng ý trả  cho bà L số tiền 7.500.000 đồng. 

Tại phiên tòa, bà L yêu cầu bà T trả tổng số tiền nợ hụi chết đến hôm nay là  30.000.000 đồng và không đồng ý cấn trừ các dây hụi khác, bà T vắng mặt không  có lý do, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. 

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc tuân  theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá  trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét  xử nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham  gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành, bị đơn vắng mặt không có lý do và đề nghị  Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn  trả tổng số tiền nợ hụi chết là 30.000.000 đồng. 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: 

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của bà L là tranh chấp dân sự về“hợp đồng  hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 và bà T hiện cư trú Ấp M, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý, xét xử sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 35,  điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên tòa, bà T đã  được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ  khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định  tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T. 

[2] Về nội dung: Bà L và bà T đều thừa nhận việc bà L là chủ hụi có tổ chức  dây hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 16-6-2019 âm lịch, có 22 chân, bà T là  hụi viên có tham gia 01 chân, đã hốt hụi và đã đóng được 16 lần hụi, nhưng sau  đó lần đóng hụi thứ 17 thì không đóng hụi chết cho bà L, hiện dây hụi này đã kết  thúc; tại biên bản lấy lời khai ngày 11-01-2021 bà T cũng thừa nhận “Dây  5.000.000 đồng, mở ngày 16-6-2019 âm lịch, có 22 chân, tôi tham gia 01 chân đóng được 16 lần, hiện còn nợ bà L 06 lần x 5.000.000 đồng với số tiền 30.000.000  đồng” (bút lục số 44-45) là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy  định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 

[3] Nhận thấy, trong dây hụi này, bà T là hụi viên tham gia hụi do bà L làm  chủ, bà T đã thực hiện quyền lĩnh hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ góp phần  hụi theo thoả thuận là vi phạm Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn  tại Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về hụi,  họ biêu, phường (sau đây gọi là Nghị định 19/2019/NĐ-CP). Nay dây hụi này đã  kết thúc và bà L yêu cầu bà T phải trả các phần hụi chết không góp đến nay (06  lần) với số tiền 30.000.000 đồng là có cơ sở, đúng theo quy định tại Điều 17 Nghị  định 19/2019/NĐ-CP, Hội đồng xét xử chấp nhận. 

[4] Việc bà T cho rằng bà có tham gia tổng cộng 03 dây hụi do bà L làm chủ  và yêu cầu cấn trừ các dây hụi thì bà trả cho bà L 7.500.000 đồng. Tuy nhiên, trong vụ án này bà L không đồng ý và bà T cũng không làm đơn yêu cầu phản tố,  Tòa án triệu tập bà T để lấy lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai  chứng cứ và hòa giải nhưng bà đều vắng mặt không có lý do chính đáng (bút lục  số 39-43, 54-68). Tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: 

[…] Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu  cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.  Do đó, ý kiến cấn trừ tiền hụi của bà T như trên là không có căn cứ để Hội đồng  xét xử xem xét giải quyết. Trường hợp bà T và bà L có tranh chấp dây hụi  3.000.000 đồng mở ngày 12-3-2019 âm lịch (có 24 chân) và dây hụi 3.000.000  đồng mở ngày 20-6-2019 âm lịch (có 24 chân) như bà T trình bày, nếu có đủ tài  liệu, chứng cứ chứng minh thì có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định pháp  luật. 

[5] Từ những phân tích như đã nêu trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi  kiện của bà L; xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận. 

[6] Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26  Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ  Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí  và lệ phí Tòa án. 

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH: 

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,  khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số  326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy  định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa  án, tuyên xử: 

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Út L, buộc bà Lê Kim T có  nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Út L số tiền nợ hụi chết là 30.000.000 đồng (bằng  chữ: Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với  khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng  tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành  án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015  tương ứng với số tiền chậm thi hành án. 

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: 

– Bà Lê Kim T phải chịu 1.500.000 đồng. 

– Bà Phan Thị Út L không phải chịu, hoàn trả cho bà L tiền tạm ứng án phí đã  nộp 600.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008203 ngày 03-12-2020 (thu 300.000 đồng) và số 0008245 ngày 11-01-2021 (thu 300.000  đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng. 

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày  tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày  nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. 

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án  dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền  yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo  quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được  thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

                                                                                                                        HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN

                                                                                                                                           – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

                                                                                                                                                     Trần Thị Kim Nhẫn

Nơi nhận

– TAND tỉnh Sóc Trăng; – VKSND huyện T; 

– Chi Cục THADS huyện T; – Các đương sự; 

– Lưu hồ sơ vụ án, VP. 

Hy vọng những thông tin chúng tôi cung cấp sẽ là nguồn tin tham khảo hữu ích với bạn. Chúc bạn thành công !

Trường hợp bản án về vấn đề TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỤI có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý vị.

Chuyên viên: Hoài Linh

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi qua thông tin sau:

CÔNG TY LUẬT TNHH CỘNG ĐỒNG VẠN TÍN 

Luật sư PHẠM THỊ NHÀN                              ĐT:  0968.605.706.hoặc 0909257165

+  https://luatsunhadathcm.com/   (Website chuyên đất đai)

+   https://luatsulyhon.com.vn/ (Website chuyên ly hôn)

+ youtube: https://www.youtube.com/channel/UCRVhgDnAXEWUVDum80drWTQ

+Fanpage: https://www.facebook.com/LU%E1%BA%ACT-S%C6%AF-NH%C3%80-%C4%90%E1%BA%A4T-1057002254479124

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0968.605.706