TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT

Capture 6 - TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT

Tranh chấp đất đai là hiện tượng thường xảy ra trong đời sống xã hội ở mọi thời kỳ lịch sử. Trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng đất xảy ra rất nhiều tranh chấp, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp tường chung, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp mục đích sử dụng đất, tranh chấp quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, ….

Ở bài viết này chúng tôi xin giới thiệu quý bạn đọc tóm tắt nội dung của Quyết định giám đốc thẩm 46/2017/DS-GĐT ngày 07/07/2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.

Tóm tắt nội dung:

Ông Lê Văn C và bà Dương Thị T là nguyên đơn đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 979388, ngày 27/7/2009. Cuối tháng 4/2014, gia đình ông Trần Văn S đến chiếm đất và khai thác nhựa thông trên diện tích 5.400 m2 rừng của gia đình Ông, Bà. Sự việc đã được Công an viên lập biên bản, UBND xã T giải quyết nhưng gia đình ông S vẫn không chấp hành. Vì vậy, Ông, Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Trần Văn S và bà Lê Thị C trả lại đất và bồi thường thiệt hại do cây thông đã bị khai thác là 14.000.000đ.

– Bị đơn là ông Trần Văn S và bà Lê Thị C thống nhất trình bày:

Năm 1998, theo Dự án trồng rừng VĐ, hộ Ông, Bà được thôn ghép với hộ ông Lê Văn C cùng một lô để trồng rừng tại K, xã T. Thực tế sử dụng đất, 2 gia đình cùng làm chung và cùng chia tiền Dự án hỗ trợ. Đến khi cây gần khai thác, ông S đã nhiều lần nói với ông C để chia đất nhưng ông C khất lần và đòi lấy 02 phần, chia cho gia đình Ông, Bà 01 phần nên hai bên phát sinh tranh chấp. Việc thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông C, bà T, Ông, Bà không biết. Đối với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Ch, Ông, Bà không chấp nhận, đề nghị Tòa án xem xét công nhận quyền sử dụng chung của hai gia đình đối với lô đất để chia cho gia đình Ông, Bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2014/DSST ngày 23/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy quyết định:

Buộc vợ chồng ông Trần Văn S và bà Lê Thị C phải trả lại cho vợ chồng ông Lê Văn C và bà Dương Thị T phần diện tích đất 5.400 m2 và cây Thông mà vợ chồng ông S, bà C đã chiếm đoạt khai thác nằm trong lô đất của ông C, bà T

-Buộc vợ chồng ông Trần Văn S và bà Lê Thị C phải trả cho vợ chồng ông Lê Văn C và bà Dương Thị T số tiền 3.000.000đ (tiền khai thác cây trên đất tranh chấp).

Ngày 24/12/2014, ông Trần Văn S có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 09/2015/DSST ngày 10/4/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định:

– Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Trần Văn S. Giữ nguyên phần nội dung của bản án dân sự sơ thẩm.

Ngày 02/6/2015, ông Trần Văn S có đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm số 09/2015/DSPT ngày 10/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình với lý do:

Đặc thù của Dự án trồng rừng VĐ từ năm 1998-2001 là phân lô đất rừng với diện tích khoảng 2ha chia cho mỗi nhóm hộ từ 1 đến 3 chủ cùng sử dụng, khi cấp Giấy chứng nhận chỉ do 1 người đại diện đứng tên nên thực tế gia đình Ông cùng gia đình ông C sử dụng chung một lô và cùng chia tiền dự án hỗ trợ nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giao dịch với dự án chỉ do ông C đại diện đứng tên. Thực tế này được xác nhận tại Báo cáo của UBND huyện L và lời khai của các nhân chứng; Bản đồ thiết kế trồng rừng của thôn M do Ông cung cấp cũng thể hiện thửa 176, tờ bản đồ số 03 ghi tên “C S”, nhưng Tòa án hai cấp tỉnh Quảng Bình chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông C để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà T là không đúng.

– Tại Quyết định kháng nghị số 27/2017/KN-DS-VC2 ngày 11/4/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2015/DSPT ngày 10/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 05/2014/DSST ngày 23/12/2014 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA GIÁM ĐỐC THẨM

Theo lời khai của ông C, bà T thì việc giao đất của UBND huyện L là giao cho hộ gia đình Ông, Bà. Sau khi được giao đất, gia đình Ông, Bà đã trực tiếp trồng rừng, chăm sóc và quản lý.

 Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông C thừa nhận vào năm 1998 gia đình Ông được ghép cùng một khoảnh với gia đình ông D, ông S, ông T; việc ghép trồng rừng chung với ông S là do Thôn ghép (BL 36,159). Theo lời khai khác của ông C thì năm 1998 gia đình Ông cùng gia đình ông Lê Văn D được thôn xét cấp cho 1 khoảnh đất tại K để trồng rừng theo dự án VĐ nhưng được chia làm 2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 Mặt khác, sau khi phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất các hộ gồm ông C, ông S, ông D và ông T đã thống nhất chia khoảnh đất làm 3 thửa, hộ ông C và hộ ông S chung 1 thửa với diện tích 13.972m2 được thể hiện tại Tờ trích lục sơ đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 05/8/2014 do ông S xuất trình tại cấp phúc thẩm (BL 142).

Theo Báo cáo số 164/BC-UBND ngày 05/12/2014 của UBND huyện L thì quá trình triển khai Dự án VĐ có tính chất đặc thù là thực hiện theo tổ, theo đó phân lô đất rừng với diện tích mỗi lô khoảng 2 ha, chia cho 1 nhóm hộ từ 1-3 chủ sử dụng đất cùng sử dụng 1 lô. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cấp theo lô, chỉ mang tên một chủ sử dụng đất đại diện. Tại xã Thái T có 335 giấy chứng nhận cấp chung cho 2 hộ, 22 Giấy chứng nhận cấp chung cho 3 hộ, 13 Giấy chứng nhận cấp chung cho 4 hộ.

Ông Phạm Xuân T – nguyên Phó giám đốc Ban quản lý dự án trồng rừng VĐ huyện L xác nhận, do quỹ đất có hạn nên chủ trương của Ban quản lý Dự án thống nhất với chính quyền địa phương ghép 2 hộ làm chung 1 lô đất (chủ trương này đã được các hộ thống nhất cùng nhau và với chính quyền địa phương). Vì vậy, lô đất số 176 diện tích 1,9ha do 2 hộ làm chung (ông S và ông C). Khi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Lê Văn C đứng tên chủ sổ (BL 106). Tại Danh sách ghép hộ do ông S xuất trình tại cấp phúc thẩm, ông Phạm Xuân T cũng xác nhận việc ghép hộ để trồng rừng là đúng theo hồ sơ thiết kế, thể hiện hộ ông S được ghép với hộ ông C (BL 131).

Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm chưa thu thập hồ sơ thiết kế trồng rừng theo Dự án VĐ và các tài liệu khác để làm rõ trên thực tế có việc ghép chung hộ ông C và hộ ông S đúng theo chủ trương nêu trên hay không? lý do ông C không đồng ý chia tách? có việc ông C yêu cầu chia 2/3 đất rừng còn hộ ông S 1/3 đất rừng dẫn đến việc không chia tách được theo như ông S trình bày hay không? Đồng thời, tại Quyết định số 766/1998 QĐ/UB ngày 24/7/1998, UBND huyện L cấp cho ông Chiến diện tích 1,9ha đất rừng, nhưng tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/7/2009, UBND huyện L cấp đổi cho hộ ông C và bà T diện tích 15.381 m2. Tòa án hai cấp không xác minh làm rõ vì sao có sự chênh lệch giảm lớn về diện tích? Và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C có đúng quy định của pháp luật về đất đai hay không? Trong khi chưa làm rõ các nội dung nêu trên và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét các tài liệu thể hiện chủ trương ghép hộ trong dự án trồng rừng VĐ, nhưng kết luận ông S chiếm đất của hộ ông C là chưa đủ cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 27/2017/KN-DS-VC2 ngày 11/4/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 09/2015/DSPT ngày 10/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2014/DSST ngày 23/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là thông tin chúng tôi cung cấp để Quy khách hàng tham khảo, nếu có bất kỳ thắc mắc nào về vấn đề đất đai, Quý khách vui lòng liên hệ:

LIÊN HỆ

Để đội ngũ Luật sư nhà đất uy tín tphcm chúng tôi có cơ hội tư vấn, hỗ trợ giao dịch nhà đất thành công, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại và đạt hiệu quả cao. Quý khách vui lòng liên hệ:

 Luật sư Phạm Thị Nhàn                 ĐT:  0968.605.706.

Số 7 Đường số 14, Khu Đô Thị Mới Him Lam, phường Tân Hưng, Quận 7, Tp.Hồ Chí Minh

Fanpage: https://www.facebook.com/LU%E1%BA%ACT-S%C6%AF-NH%C3%80-%C4%90%E1%BA%A4T-1057002254479124

Facebook: https://www.facebook.com/phamthinhan.ls

Website: https://luatsulyhon.com.vn/;https://luatsunhadathcm.com/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0968.605.706