Án Thực Tế 3 – Hủy Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất

bbc2a4d31973e72dbe62 - Án Thực Tế 3 - Hủy Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất

Hủy Hợp đồng chuyển nhượng đất là một trong những tranh chấp nhận được nhiều sự quan tâm từ phía khách hàng. Việc hủy hợp đồng chuyển nhượng đất có đơn giản hay không, quá trình diễn ra như thế nào? Hủy hợp đồng chuyển nhượng đất sẽ gây ra hậu quả gì? Để giúp quý vị có thể hiểu rõ hơn về hủy hợp đồng chuyển nhượng đất chúng tôi xin cung cấp một Bản án thực tế sau đây.

2610a - Án Thực Tế 3 - Hủy Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất

Tóm tắt Bản án:

1975Ông Lương Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị Cẩm khai hoang diện tích đất hồ nuôi tôm thuộc thửa số 523 và một phần thửa số 526, tờ bản đồ số 26, tại thôn V, xã T, huyện N.
1980ông Lương Văn Hoàng chết
10/7/2017Bà Nguyễn Thị Cẩm và ông Lương Văn Bình, Lương Thị Phương, Lương Thị Hồng, Lương Thị Lài, Lương Văn Bình, Lương Thị Son, Lương Thị Sinh chuyển nhượng diện tích đất trên cho bên nhận chuyển nhượng là ông Đoàn Minh Tuấn với giá 350.000.000 đồng bằng hợp đồng viết tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi là “giấy bán đất”.

Ông Lương Đình Tú và ông Lương Văn Bảo cho rằng diện tích đất hồ nuôi tôm thuộc thửa số 523 và một phần thửa số 526, tờ bản đồ số 26, tại thôn V, xã T, huyện N là tài sản của cha mẹ ruột là ông Lương Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị Cẩm nên sau khi ông Lương Văn Hoàng chết, tài sản trên thuộc quyền thừa kế của các anh chị em trong gia đình, trong đó có hai ông. Tuy nhiên, việc bà Cẩm và các anh chị em khác bán mảnh đất trên mà không có sự đồng ý của hai ông là đã vi phạm quyền và lợi ích của cả hai.

6/2020Do đó, hai ông khởi kiện yêu cầu:

– Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/5/ 2017 giữa hai bên

– Yêu cầu ông Đoàn Minh Tuấn chấm dứt việc cải tạo, cơi nới, xây dựng trên diện tích đất chuyển nhượng, bồi thường toàn bộ số cây trồng bị chặt trên đất và trả lại hiện trạng ban đầu.

+ Tại Bản án sơ thẩm số 103/2019/DS ST ngày 16/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã tuyên xử đối với yêu câu về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng đất trên như sau:

“Tại Bản án dân sự sơ thẩm đã áp dụng khoản 3 Điều 26, các điều 35, 39, 147, 149, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 158, 160, 192, 193, 194, 206, 612, 614 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đình T1 và ông Lương Văn B2 đối với ông Đoàn Minh T2 về việc “yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Vì nguyên đơn Lương Văn Bảo có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm do đó vụ án trên đã được phúc thẩm.

+ Tòa phúc đã tuyên xử đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất như sau:

“[2.1] Về thủ tục tố tụng:

[2.1.1 Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và giải quyết, xét xử yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; không xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, không thu thập chứng cứ, làm rõ, xem xét, nhận định, xét xử, kết luận đối với yêu cầu “bồi thường toàn bộ số cây trồng bị chặt trên đất, trả lại hiện trạng như ban đầu” của các nguyên đơn là bỏ sót yêu cầu khởi kiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

[2.1.2]. Bản án sơ thẩm nhận định: từ trước năm 2010, diện tích đất thuộc đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đất hoang chưa sử dụng, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện N quản lý, nhưng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân xã T, huyện N vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xem xét, giải quyết, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan được nhà nước giao quản lý đất đai tại địa phương là thiếu sót. Hội đồng xét xử thấy các thiếu sót trên của Tòa án cấp sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không thể khắc phục được tại phiên tòa phúc thẩm.

[2.2] Về nội dung

[2.2.1]. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các nguyên đơn không có quyền lợi liên quan đến diện tích đất là “cái đìa ngoài cây tra” thuộc đối tượng của hợp đồng, nhưng chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ về hồ sơ kê khai, đăng ký của bà Nguyễn Thị Cẩm vào năm 2010 (tại cơ quan có thẩm quyền), chưa xác minh đầy đủ về quá trình sử dụng diện tích đất thuộc thửa số 523 và một phần thửa số 526, tờ bản đồ số 26, tại thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Q của gia đình ông Lương Văn Hoàng, bà Nguyễn Thị Cẩm qua các thời kỳ; chưa xác minh, thu thập quan điểm của cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai (theo Điều 23 Luật Đất đai năm 2013) về xác định cá nhân, tổ chức nào là người sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong hợp đồng lập ngày 10 tháng 5 năm 2017 và việc sử dụng đất trên thực tế từ năm 1982 cũng như việc kê khai, đăng ký đất đai từ năm 2010 của bà Nguyễn Thị Cẩm có đủ điều kiện để được xác định là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất theo khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 hay không, có được hưởng quyền của người sử dụng đất theo quy định tại khoản 5 Điều 95, Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 hay không, để xem xét, kết luận quyền khởi kiện của các nguyên đơn trong vụ án này là thiết sót.

[2.2.2]. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự để nhận định, xem xét, quyết định về yêu cầu “hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thuộc vụ án là sai sót nghiêm trọng về áp dụng pháp luật nội dung làm căn cứ giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.

[3]. Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Lương Văn Bảo, xử hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Núi Thành giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tòa án phúc thẩm đã tuyên xử đối với vụ án hủy hợp đồng chuyển nhượng đất trên như sau:

1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Lương Văn B2, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2019/DS – ST ngày 16 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm”.

Trên đây là những thông tin của chúng tôi về Bản án thực tế yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất trên. Hi vọng sẽ giúp ích được cho quý vị. Quý vị có thể tham khảo thêm các bài viết khác liên quan tại link:

https://luatsunhadathcm.com/huy-bo-hop-dong-cac-van-de-lien-quan/

https://luatsunhadathcm.com/huy-hop-dong-chuyen-nhuong-dat/

Chuyên viên: KIM PHÚC

LIÊN HỆ

Để đội ngũ Luật sư nhà đất uy tín tphcm chúng tôi có cơ hội tư vấn, hỗ trợ giao dịch nhà đất thành công, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại và đạt hiệu quả cao. Quý khách vui lòng liên hệ:

 Luật sư Phạm Thị Nhàn                 ĐT:  0968.605.706.

Công ty Luật TNHH Vạn Tín           ĐT: 028.7309.6558;           website: https://luatvantin.com.vn/

Số 7 Đường số 14, Khu Đô Thị Mới Him Lam, phường Tân Hưng, Quận 7, Tp.Hồ Chí Minh

Fanpage: https://www.facebook.com/LU%E1%BA%ACT-S%C6%AF-NH%C3%80-%C4%90%E1%BA%A4T-1057002254479124

Facebook: https://www.facebook.com/phamthinhan.ls

Website: https://luatsulyhon.com.vn/;https://luatsunhadathcm.com/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0968.605.706